Lịch phụng vụ Chúa Nhật thứ 17 Thường niên năm C



Chúa Nhật thứ 17 Thường niên năm C

Thứ Hai trong tuần 17 Thường niên ngày 25 tháng 7, thánh Giacôbê, tông đồ, lễ kính.
Bài đọc: 2 Cr 4, 7-15
Đáp ca: Tv 125, 1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6
Phúc âm: Mt 20, 20-28

Thứ Ba trong tuần 17 Thường niên ngày 26 tháng 7, hai Thánh Gioakim và Anna, lễ nhớ.        
Bài đọc: Gr 14, 17-22
Đáp ca: Tv 78, 8. 9. 11 và 13
Phúc âm: Mt 13, 36-43

Thứ Tư trong tuần 17 Thường niên ngày 27 tháng 7
Bài đọc: Gr 15, 10. 16-21
Đáp ca: Tv 58, 2-3. 4-5a. 10-11. 17. 18
Phúc âm: Mt 13, 44-46

Thứ Năm trong tuần 17 Thường niên ngày 28 tháng 7
Bài đọc: Gr 18, 1-6
Đáp ca: Tv 145, 2abc. 2d-4. 5-6
Phúc âm: Mt 13, 47-53

Thứ Sáu trong tuần 17 Thường niên ngày 29 tháng 7, thánh Martha, lễ nhớ.
Bài đọc: Gr 26, 1-9
Đáp ca: Tv 68, 5. 8-10. 14
Phúc âm: Mt 13,54-58

Thứ Bảy trong tuần 17 Thường niên ngày 30 tháng 7
Bài đọc: Gr 26, 11-16. 24
Đáp ca: Tv 68, 15-16. 30-31. 33-34
Phúc âm: Mt 14, 1-12

Chúa Nhật thứ 18 Thường niên năm C ngày 31 tháng 7
Bài đọc I: Gv 1, 2; 2, 21-23
Đáp ca: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9
Bài đọc II: Cl 3, 1-5, 9-11
Phúc âm: Lc 12, 13-21

HỌC HỎI KINH THÁNH

Chúa Nhật thứ 18 Thường niên năm C

Phúc âm: Lc 12, 13-21

13 Khi ấy, có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi.” 14 Người đáp: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?” 15 Và Người nói với họ: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.”
16 Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, 17 mới nghĩ bụng rằng: ‘Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!’ 18 Rồi ông ta tự bảo: ‘Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. 19 Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!’ 20 Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: ‘Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?’ 21 Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”

(Bản dịch nhóm CGKPV)

Suy niệm 

1. Vấn đề thu hoạch dồi dào đến nỗi người ta không biết để của cải ở đâu đã trở thành phổ biến, vào thời đại hôm nay. Mỗi người cần phải tự hỏi theo ý mình, thế nào là cuộc sống lý tưởng, mình vận dụng sức lực cho chuyẹn gì, nếu lại không phải là “mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!”. Ở bên ngoài các giá trị này, còn những giá trị và mục tiêu nào có thể nên được nhắc đến?

2. Cái chết “phá rối”, ai cũng biết. Người ta tìm mọi cách để đối phó với nó. Người ta cản bước nó tối đa bằng các cách tri liệu y khoa. Người ta nghĩ tới nó ítchừng nào tốt chừng đó. Người ta tránh để cho lòng mình bị xúc động trước cái chết của người khác. Dĩ nhiên người ta vẫn không tránh được cái chết. Do đó, người ta phải khai thác tối đa thời gian của cuộc sống được ban cho ta. Cũng phức tạp, nhưng cách nào đó, người ta có thể “đạt thắng lợi” trên cái chết. Nhưng làm thế nào đạt thắng lợi trên vị Thiên Chúa “phá rối”? Người ta cũng tìm cách tránh xa Ngài, quên Ngài đi. Người ta có thể không nói đến Ngài nữa và sống y như thể không có Ngài. Tuy thế, người ta không thể tránh né Ngài kiểu tiêu cực. Phải sống làm sao để cuộc sống của mình có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người nào chỉ sống cho những nhu cầu riêng và những đòi hỏi vật chất, thì đã chết trong cuộc đời này rồi, vì đã bị cô lập trong tính ích kỷ của mình. Tình trạng cô lập này trở nên trọn vẹn và được xác nhận bằng cái chết.

3. Cuộc sống viên mãn chỉ hệ tại tình yêu. Chỉ cuộc sống nào nhắm đến tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân thì mới là cuộc sống trung thực. Chỉ một cuộc sống như thế mới có thể được Thiên Chúa chuẩn nhận và được Ngài đưa đến chỗ thành toàn với ân huệ là sự sống đời đời. Chúng ta đã nhận đời sống từ Đấng Tạo hóa, thì chúng ta cũng phải nhận cả ý nghĩa của đời sống từ Ngài. Và đối với Ngài, ý nghĩa của đời sống không phải là tiện nghi, mà là tình yêu.

(Lm PX Vũ Phan Long, ofm)

Eighteenth Sunday in Ordinary Time – Year C

Gospel: Lk 12:13-21

Someone in the crowd said to Jesus, “Teacher, tell my brother to share the inheritance with me.” He replied to him, “Friend, who appointed me as your judge and arbitrator?” Then he said to the crowd, “Take care to guard against all greed, for though one may be rich, one’s life does not consist of possessions.”

Then he told them a parable. “There was a rich man whose land produced a bountiful harvest. He asked himself, ‘What shall I do, for I do not have space to store my harvest?’ And he said, ‘This is what I shall do: I shall tear down my barns and build larger ones. There I shall store all my grain and other goods and I shall say to myself, “Now as for you, you have so many good things stored up for many years, rest, eat, drink, be merry!”’ But God said to him, ‘You fool, this night your life will be demanded of you; and the things you have prepared, to whom will they belong?’ Thus will it be for all who store up treasure for themselves but are not rich in what matters to God.”

(http://www.usccb.org)

Reflection

Linus is the Peanuts character who is always drawn holding a blanket to his head and sucking his thumb. Linus is a beloved character who reminds us that we all need a hug, a security blanket once in a while. Borrowing his name and image, Project Linus is a national organization that provides free security blankets for critically ill or traumatized children. Some of the blankets donated are larger, intended for older children. Pain, fear, and insecurity know no age limits. Whenever we face any life-threatening occasion, we naturally reach out for whatever relieves us, whatever wraps us in hugs, love, security. We can readily identify, then, with the rich man in the gospel who has a “bountiful harvest” and doesn’t want to waste a single grain. Although he is rich and probably already has plenty, he portrays what each of us harbors in the depth of our hearts: we can never have enough. We always want to increase whatever we think gives us security in face of life’s inevitable exigencies. How mistaken we are! The rich man in the gospel thinks building bigger barns to hold a boon of “grain and other goods” will give him enough security that he can “rest, eat, drink, be merry.” When his life is “demanded” of him, however, his store of “grain and other goods” proves not to be the ultimate security - an eternal inheritance. He is misguided about the bigger barn he really needs to build. In the end, what “matters to God” is a “barn” full of what only God can give: life, love, holiness, fidelity, generosity, compassion, Life. No barn can ever be big enough to hold these. No barn we build can hold the security that is God alone. The only secu- rity we truly possess is a loving relationship with God - and this is surely what matters most to God. It should matter most to us. Even with all our Christian living and reflection, we still struggle with what God graciously offers us - not more possessions, but fullness of Life. The gospel challenges us to direct all of our work toward a quality of life based on growing in our relationship with God and each other. Even our possessions and how we use them have this end - to bring us into right relationship with God and each other so that ultimately we possess what really counts: God’s eternal Life. God offers us what matters most - fullness of Life and the secure happi- ness that only God can give. God alone is our sure security blanket.

To the point:

The rich man in the gospel thinks building bigger barns to hold a boon of “grain and other goods” will give him enough security that he can “rest, eat, drink, be merry.” When his life is “demanded” of him, however, his store of “grain and other goods” proves not to be the ultimate security - an eternal inheritance. He is misguided about the bigger barn he really needs to build. In the end, what “matters to God” is a “barn” full of what only God can give: life, love, holiness, fidelity, generosity, compassion, Life. No barn can ever be big enough to hold these. No barn we build can hold the security that is God alone.

(Source: Living Liturgy 2016)


Lịch phụng vụ Chúa Nhật thứ 16 Thường niên năm C



Chúa Nhật thứ 16 Thường niên năm C

Thứ Hai trong tuần 16 Thường niên ngày 18 tháng 7
Bài đọc: Mk 6, 1-4. 6-8
Đáp ca: Tv 49, 5-6. 8-9. 16bc-17. 21 và 23
Phúc âm: Mt 12, 38-42

Thứ Ba trong tuần 16 Thường niên ngày 19 tháng 7
Bài đọc: Mk 7, 14-15. 18-20
Đáp ca: Tv 84, 2-4. 5-6. 7-8
Phúc âm: Mt 12, 46-50

Thứ Tư trong tuần 16 Thường niên ngày 20 tháng 7
Bài đọc: Gr 1, 1. 4-10
Đáp ca: Tv 70, 1-2. 3-4a. 5-6ab. 15ab và 17
Phúc âm: Mt 13, 1-9

Thứ Năm trong tuần 16 Thường niên ngày 21 tháng 7
Bài đọc: Gr 2, 1-3. 7-8. 12-13
Đáp ca: Tv 35, 6-7ab. 8-9. 10-11
Phúc âm: Mt 13, 10-17

Thứ Sáu trong tuần 16 Thường niên ngày 22 tháng 7, thánh Maria Madalena. Lễ nhớ.
Bài đọc: Dc 3, 1-4a
Đáp ca: Tv 62, 2. 3-4. 5-6. 8-9
Phúc âm: Ga 20, 1. 11-18

Thứ Bảy trong tuần 16 Thường niên ngày 23 tháng 7
Bài đọc: Gr 7, 1-11
Đáp ca: Tv 83, 3. 4. 5-6a và 8a. 11
Phúc âm: Mt 13, 24-30

Chúa Nhật thứ 17 Thường niên năm C ngày 24 tháng 7
Bài đọc I: St 18, 20-32
Đáp ca: Tv 137, 1-2a. 2bc-3. 6-7ab. 7c-8
Bài đọc II: Cl 2, 12-14
Phúc âm: Lc 11, 1-13

HỌC HỎI KINH THÁNH

Chúa Nhật 17 Thường niên năm C

Phúc âm: Lc 11, 1-13

1 Một hôm, Đức Giê-su cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gio-an đã dạy môn đệ của ông.” 2 Người bảo các ông: “Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: “Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến, 3 xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy; 4 xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ.”
5 Người còn nói với các ông: “Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: ‘Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, 6 vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả’, 7 mà người kia từ trong nhà lại đáp: ‘Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được.’? 8 Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.
9 “Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. 10 Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. 11 Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? 12 Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? 13 Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?”

(Bản dịch nhóm CGKPV)

Suy niệm 

1. Trong khi cầu nguyện, Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là “Cha” (Lc 10,21; 22,42; 23,34-46), bởi vì Người biết Cha như thế. Lời dạy về cầu nguyện cũng đồng thời là một lời dạy về đức tin. Chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa là Cha chúng ta và Ngài quan hệ với chúng ta với tất cả sự quan tâm và yêu thương. Chúng ta phải ngỏ lời với Ngài và dâng lên Ngài những lời thỉnh cầu với đức tin này. Nếu chúng ta có một ý tưởng đúng về Ngài, chúng ta sẽ trình với Ngài những lời thỉnh cầu đầy tin tưởng và hy vọng và cậy vào sự giúp đỡ của Ngài.

2. Đức Giêsu dạy chúng ta phải và có thể cầu xin cho có những nhu cầu vật chất. Người không bảo chúng ta xin cho có dư thừa. Lời cầu nguyện Người dạy cũng không thu hẹp lại theo kiểu ích kỷ, Người dạy xin cho “chúng con”, tức là tất cả những ai đang cầu nguyện.

3. Khi chúng ta xin Thiên Chúa hủy diệt sự dữ, sự thù ghét, bất công, trả thù, chúng ta đã tự nhắc mình nhờ lại các cam kết lúc nhận bí tích rửa tội, đó là tận dụng tất cả năng lực chúng ta mà phụng sự Thiên Chúa, để cho vương quốc công lý, tình yêu và hòa bình mau đến trên trần gian này. Điều này có nghĩa là chúng ta cầu nguyện không phải là để thay đổi “lòng dạ” Thiên Chúa, nhưng là để thay long đổi dạ chúng ta, để chúng ta sẵn sàng chấp nhận hoạt động cứu độ của Ngài.

4. Như người bạn đến xin người láng giềng giúp cho một nhu cầu, chúng ta cũng phải ngỏ lời với Thiên Chúa không phải vì những chuyện phù phiếm, nhưng là để trình bày với Ngài những nhu cầu thực tế của chúng ta và của người khác. Đứng trước Thiên Chúa, chúng ta không cần phải tìm kiếm hoặc tính toán so đo về các lời lẽ, nhưng chúng ta có thể nói thẳng ra với Ngài. Và khi cầu nguyện, chúng ta không được mệt mỏi hoặc nản chí. Chúng ta không được bỏ Ngài, không mong được Ngài giúp đỡ, để rồi đi theo đường mình cách cam chịu hoặc tự phụ. Chúng ta cứ phải liên kết với Ngài bằng một lời cầu nguyện kiên nhẫn, đầy niềm tin tưởng và đơn sơ, lặp đi lặp lại và không mỏi mệt.

5. Đức Giêsu cam kết rằng nếu chúng ta tha thiết cầu nguyện, chúng ta sẽ được Thiên Chúa  nhận lời. Tuy nhiên, dường như điều này không đúng với kinh nghiệm chúng ta? Thật ra Đức Giêsu bảo đảm rằng Thiên Chúa chỉ ban những của tốt lành, nhưng Người không hề bảo đảm là lời cầu nguyện của chúng ta luôn luôn có nội dung là những ân ban mà chúng ta thấy là tốt lành. Người cha không đưa con rắn cho đứa con xin cá. Nhưng nếu người con xin một con rắn mà nghĩ rằng đó là điều tốt, thì người cha, chính vì ông tốt, ông sẽ không nhận lời xin này. Vậy chính Thiên Chúa phán đoán về các lời thỉnh cầu của chúng ta. Chúng ta không thể qui định cho Ngài cách thức Ngài phải theo mà nhận lời chúng ta. Chỉ có một điều là chúng ta chắc chắn rằng Ngài sẽ nhận lời vào lúc tốt nhất cho chúng ta.

6. Không có gì lạ nếu khi dạy chúng ta gọi Thiên Chúa là “Cha”, Đức Giêsu lại hứa là những ai ngỏ lời với Thiên Chúa sẽ được Ngài ban Thánh Thần. Nếu chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa trong đức tin, chúng ta đã đang cầu nguyện trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần rồi. Và khi cầu nguyện như thế, chúng ta đã sẵn sàng để cho mình được thấm nhuần sâu xa hơn bởi Thần Khí này, để cho Ngài trở nên sống động trong ta, và càng ngỏ lời với Thiên Chúa như là Cha chúng ta trong niềm tin tưởng trọn vẹn hơn. Điều quan trọng hơn mỗi lời xin và mỗi sự nhận lời, đó là tương quan chúng ta thiết lập với Thiên Chúa trong cầu nguyện. Lời kinh dâng lên với đức tin đã là một sự nhận lời rồi, bởi vì khi đó dây liên kết chúng ta với Thiên Chúa được đào sâu thêm và tăng trưởng hơn: Thiên Chúa ban Thánh Thần cho những ai cầu nguyện và đón tiếp họ vào trong sự hiệp thông ngày càng sống động và thân tình hơn với Ngài.

(Lm PX Vũ Phan Long, ofm)

Seventeenth Sunday in Ordinary Time – Year C

Gospel: Lk 11:1-13

Jesus was praying in a certain place, and when he had finished, one of his disciples said to him, "Lord, teach us to pray just as John taught his disciples." He said to them, "When you pray, say: Father, hallowed be your name, your kingdom come. Give us each day our daily bread and forgive us our sins for we ourselves forgive everyone in debt to us, and do not subject us to the final test."

And he said to them, "Suppose one of you has a friend to whom he goes at midnight and says, 'Friend, lend me three loaves of bread, for a friend of mine has arrived at my house from a journey and I have nothing to offer him,' and he says in reply from within, 'Do not bother me; the door has already been locked and my children and I are already in bed. I cannot get up to give you anything.' I tell you, if he does not get up to give the visitor the loaves because of their friendship, he will get up to give him whatever he needs because of his persistence. “And I tell you, ask and you will receive; seek and you will find; knock and the door will be opened to you. For everyone who asks, receives; and the one who seeks, finds; and to the one who knocks, the door will be opened. What father among you would hand his son a snake
when he asks for a fish? Or hand him a scorpion when he asks for an egg? If you then, who are wicked, know how to give good gifts to your children, how much more will the Father in heaven give the Holy Spirit to those who ask him?"

(http://www.usccb.org)

Reflection

In an early church writing called the Didache (The Teaching of the Twelve Apostles; probably second century), we have the first “commandment” about prayer: to pray the Our Father “as the Lord bid us in his gospel… pray in this way three times a day” (8:2, 3). The Didache doesn’t say when the three times a day are to be, but presumably at traditional prayer times: upon rising, at midday, upon retiring. This prayer has been in the hearts of Christians since the early disciples asked Jesus to teach them to pray. He gave them words. But he also gave them much more. Jesus, in this gospel, gives us a way to address God (as “Father”), how we ought to pray (with perseverance), and why we pray (because God gives us all “good gifts”). Jesus teaches us that prayer is and must be from oneself, very personal. Prayer is a gift of self. Jesus’ disciples want him to teach them to pray “just as John taught his disciples.” Jesus couldn’t teach them the prayer of John, however, because he was not John. He was himself, and would teach a prayer that is the very gift of himself to us. Jesus’ prayer to his Father flows from who he is - the One who praises, intercedes, forgives, reconciles, and protects. In this he gives us a pattern for our prayer, even if we do not use these very words. Our prayer flows from our physical needs, our emotional attachments and relationships, our spiritual desires. In the end, however, Jesus’ prayer is for his Father to “give the Holy Spirit.” Then, no request is too great, no seeking is unrewarded, no door is locked. The Holy Spirit transforms our prayer - and us - into turning ourselves toward God, into allowing the prayer to change us into those who seek only what God desires for us. The two examples that Jesus uses (neighborly friendship and father-son kinship) reveal that what is always granted through prayer is deeper relation- ship with God and others. Jesus teaches us that the One to whom we pray is our “Father” whose love and care for us is unlimited. This deeply intimate and personal relationship with God inspires in us the confidence (“how much more… ”) to pray with “persistence” and the realization that what we pray for is not so important as the fact that we address God in such intimate terms. The prayer always deepens our relationship with God and this is already an answer to what we need. The prayer transforms our relationship with each other -  opening us to forgiveness and reconciliation - and this is surely an answer to who we are and wish to become.

To the point:

Jesus’ disciples want him to teach them to pray “just as John taught his disciples.” Jesus couldn’t teach them the prayer of John, however, because he was not John. Jesus’ prayer to his Father flows from who he is - the One who praises, intercedes, forgives, reconciles, and protects. In the end, his prayer is for his Father to “give the Holy Spirit.” Then, no request is too great, no seeking is unrewarded, no door is locked.

(Source: Living Liturgy 2016)